Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

Thủ tục nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài

 


 

Bước 1.

Tại cơ quan đại dện: Người yêu cầu đăng kí việc nhận cha, mẹ, con nộp hồ sơ trực tiếp tại cơ quan đại diện

Tại sở tư pháp: Người yêu cầu đăng kí việc nhận cha, mẹ, con nộp hồ sơ trực tiếp tại Sở Tư pháp có thẩm quyền

Bước 2.

Cán bộ tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ, nếu hồ sơ đầy đủ và hợp lệ thì viết phiếu tiếp nhận hồ sơ, ghi rõ ngày trả kết quả. Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, không hợp lệ, cán bộ tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn người yêu cầu bổ sung, hoàn thiện. Văn bản hướng dẫn phải ghi đầy đủ rõ ràng các loại giấy tờ cần phải bổ sung, hoàn thiện; cán bộ tiếp nhận hồ sơ ký, ghi rõ họ tên và giao cho người nộp hồ sơ. Thời hạn giải quyết tính từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Trường hợp người có yêu cầu nộp không đúng cơ quan có thầm quyền theo quy định, cán bộ tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn họ đến cơ quan có thẩm quyền nộp hồ sơ.

Bước 3.

Tại cơ quan đại diện: Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, cơ quan đại diện có trách nhiệm:

Nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ nhận cha, me, con; trường hợp nghi vấn hoặc có khiếu nại, tố cáo hoặc có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của các bên cha, mẹ, con hoặc giấy tờ trong hồ sơ thì cơ quan đại diện thực hiện xác minh

Nếu xét thấy các bên đương sự đáp ứng đủ điều kiện thì người đứng đầu cơ quan đại diện kí Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con.

Trong trường hợp từ chối việc công nhận thì Cơ quan đại diện gửi văn bản thông báo cho người yêu cầu trong đó nêu rõ lý do từ chối.

Tại sở tư pháp: Ngay sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Sở Tư pháp có trách nhiệm nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ, niên yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở Sở Tư pháp trong thời hạn 7 ngày làm việc. Đồng thời có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của người được nhận là cha, mẹ, con niêm yết việc nhận cha, mẹ, con.

Bước 4.

Tại cơ quan đại diện: trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày ngườ đứng đầu cơ quan đại diện ký quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con Cơ quan đại diện thực hiện trao quyết định công nhận việc nhận cha,mẹ, con và ghi vào sổ đăng kí việc nhận cha, mẹ, con. Khi trao quyết định công nhận phải có mặt bên nhận và bên được nhận.

Tại Sở tư pháp: Ngay sau khi nhận được công văn của Sở tư pháp UBND cấp xã có trách nhiệm niêm yết việc xin nhận cha, mẹ, con trong vòng 7 ngày tại trụ sở. Nếu có khiếu nại, tố cáo phải gửi văn bản báo cáo ngay lên Sở Tư pháp.

Bước 5.

Tại sở tư pháp trong quá trình giải quyết mà xảy ra tranh chấp thì đình chỉ việc giải quyết hồ sơ, hướng dẫn người có tranh chấp yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục  tố tụng. Nếu có khiếu nại tố cáo về việc nhận cha, mẹ con thì Sở Tư pháp đình chỉ tới khi nào giải quyết xong khiếu nại, tố cáo.

Trường hợp từ chối việc nhận cha, mẹ, con thì phải nêu rõ lý do

Bước 6.

Tại sở tư pháp: trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày kí quyết định công nhận thì phải tiến hành trao quyết định công nhận cha, mẹ, con và ghi vào sổ đăng kí. Việc trao quyết định phải có mặt của bên nhận và bên được nhận.

Trường hợp vì lý do chính đáng mà 1 bên hoặc cả 2 bên không thể đến nhận Quyết định thì phải thay đổi ngày nhận Quyết định. Trường hợp con dưới 9 tuổi thì không bắt buộc phải có mặt khi nhận Quyết định.

Thứ Ba, 6 tháng 4, 2021

Làm đám cưới mà không đăng ký kết hôn có vi phạm pháp luật không ?

  


Lễ cưới (hay hôn lễ) là một phong tục văn hóa trong hôn nhân nhằm thông báo rộng rãi về sự chấp nhận và chứng kiến của gia đình, xã hội về cuộc hôn nhân của một cặp đôi, là hình thức liên hoan, mừng hạnh phúc cô dâu chú rể và hai gia đình. Lễ cưới được hiểu là một nghi lễ, và thường kết hợp với một tiệc cưới để trở thành đám cưới hoặc lễ thành hôn. Vậy, tổ chức lễ cưới mà chưa đăng ký kế hôn có vi phạm pháp luật không?

Khoản 5 điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 giải thích về kết hôn như sau: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”

Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về  việc đăng ký kết hôn như sau: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Vậy, việc kết hôn không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận và không có giá trị pháp lý, hai bên nam nữ không có nghĩa vụ vợ chồng với nhau.

Việc tổ chức đám cưới, chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn không bị pháp luật cấm, tuy nhiên việc tổ chức đám cưới và sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn không được pháp luật công nhận, nói cách khác, về mặt pháp lý, hai bên nam nữ không phải vợ chồng của nhau, họ không có quyền và nghĩa vụ vợ chồng với nhau.

Khoản 2 điều 5 quy định các hành vi bị cấm để bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình, trong đó bảo gồm việc người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Tức là khi việc sống như vợ chồng khi một bên đang có vợ hoặc chồng, một bên chưa có vợ/chồng mà biết người kia có vợ hoặc chồng là vi phạm pháp luật, sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý; Tương tự, việc sống như vợ chồng với những người có họ trong phạm vi ba đời, cha/mẹ-con nuôi, cha/mẹ chồng/vợ- con dâu/con rể, cha dượng/mẹ kế-con riêng cũng vi phạm pháp luật, phải chịu trách nhiệm pháp lý.

Như vậy, việc tổ chức đám cưới mà không đăng ký kết hôn là hình chung sống như vợ chồng, không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Pháp luật cũng không cấm việc chung sống như vợ chồng nếu không thuộc những trường hợp đã nêu trên.

Tóm lại, căn cứ để pháp luật công nhận một cuộc hôn nhân hợp pháp là dựa vào tờ giấy chứng nhận kết hôn. Việc tổ chức một đám cưới linh đình, đông vui chỉ là nơi để cặp vợ chồng công bố với mọi người về việc họ chính thức quyết định về chung một nhà và cùng nhau xây dựng tổ ấm, hoàn toàn không có chút ràng buộc pháp lý nào.