Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2020

Thủ tục xử lý đơn đăng ký sáng chế

 Đối với các đơn đăng ký bảo hộ đối tượng công nghiệp sở hữu nói chung và đơn đăng ký sáng chế nói riêng sau khi đã được nộp vào Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam, người nộp đơn đều rất quan tâm đến việc đơn của mình sẽ được xử lý như thế nào và trong thời gian bao lâu. Cụ thể, đơn đăng ký sáng chế sẽ trải qua các giai đoạn bao gồm: tiếp nhận đơn; thẩm định hình thức đơn; công bố đơn hợp lệ; thẩm định nội dung đơn; cấp hoặc từ chối cấp văn bằng bảo hộ; đăng bạ và công bố quyết định cấp văn bằng bảo hộ.



Thứ nhất, tiếp nhận đơnđăng ký sáng chế:

Ở giai đoạn này, khi nhận đơn, Cục sở hữu trí tuệ sẽ kiểm tra đơn và đối chiếu với danh mục tài liệu ghi trong tờ khai để kết luận có tiếp nhận đơn hay không. Trong trường hợp đơn đầy đủ các tài liệu tối thiểu theo quy định pháp luật, cán bộ nhận đơn sẽ tiếp nhận đơn và đóng dấu xác nhận ngày nộp đơn và số đơn vào các tờ khai và gửi lại một bản tờ khai cho người nộp đơn. Trường hợp đơn không đủ các tài liệu tối thiểu, Cục sẽ từ chối tiếp nhận đơn.

Thứ hai, thẩm định hình thức đơn đăng ký sáng chế:

Mục đích của việc thẩm định hình thức đơn đăng ký sáng chế nhằm kiểm tra việc tuân thủ các quy định về hình thức đối với đơn, từ đó đưa ra kết luận đơn có được coi là hợp lệ hay không. Nếu đơn hợp lệ sẽ được xem xét tiếp nếu không, đơn sẽ bị từ chối. Hình thức được xem xét ở đây liên quan đến ngôn ngữ trình bày đơn, hình thức trình bày văn bản, cỡ chữ; số lượng bản tài liệu; tờ khai phải đảm bảo các thông tin bắt buộc và thống nhất; đối với các tài liệu yêu cầu phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền, thì phải có dấu xác nhận của cơ quan đó. Ngoài ra, trong giai đoạn này, Cục cũng sẽ kiểm tra ngày nộp đơn và ngày ưu tiên (nếu có). Nếu đơn còn thiếu sót, Cục sẽ gửi cho người nộp đơn thông báo dự định từ chối chấp nhận đơn hợp lệ và ấn định thời gian để người nộp đơn có thể sửa chữa thiếu sót, trường hợp người nộp đơn không phản hồi, Cục sẽ ra Thông báo từ chối đơn. Nếu đơn hợp lệ, Cục sẽ gửi cho người nộp đơn thông báo chấp nhận đơn hợp lệ

Thứ ba, công bố đơn hợp lệ:

Các đơn đăng ký sáng chế sau khi được chấp nhận hợp lệ đều được Cục Sở hữu trí tuệ công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp trong tháng thứ mười chín kể từ ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn, nếu đơn không có ngày ưu tiên hoặc trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày chấp nhận đơn hợp lệ, tuỳ theo ngày nào muộn hơn. Nếu là đơn đăng ký sáng chế theo Hiệp ước hợp tác về sáng chế sẽ được công bố trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày chấp nhận đơn hợp lệ sau khi đơn đã vào pha quốc gia. Đối với đơn có yêu cầu công bố sớm được công bố trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày Cục Sở hữu trí tuệ nhận được yêu cầu công bố sớm hoặc kể từ ngày chấp nhận đơn hợp lệ, tuỳ theo ngày nào muộn hơn.

Thứ tư, thẩm định nội dung đơn đăng ký sáng chế:

Mục đích của việc thẩm định nội dung đơn đăng ký sáng chế nhằm đánh giá khả năng được bảo hộ của đối tượng nêu trong đơn theo các điều kiện bảo hộ và xác định phạm vi bảo hộ tương ứng của đơn. Lưu ý rằng, trong quá trình thẩm định nội dung đơn đăng ký sáng chế có quyền ưu tiên, Cục có thể sử dụng kết quả tra cứu thông tin và kết quả thẩm định tương ứng đã nộp ở nước ngoài. Tuy nhiên, người nộp đơn có thể chủ động cung cấp các tài liệu sau để phục vụ cho việc thẩm định đó là: (i) kết quả tra cứu thông tin hoặc kết quả thẩm định đơn đã nộp ở nước ngoài cho đối tượng nêu trong đơn (ii) bản sao văn bằng bảo hộ đã được cấp trên cơ sở đơn đồng dạng đã nộp ở nước ngoài (iii) tài liệu liên quan đến tình trạng kỹ thuật của đối tượng nêu trong đơn đăng ký sáng chế mà người nộp đơn được cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cung cấp và tài liệu khác. Nội dung thẩm định đơn đăng ký sáng chế đó là đánh giá sự phù hợp của đối tượng nêu trong đơn với từng điểm nêu trong yêu cầu bảo hộ. Sau khi kết thúc quá trình thẩm định nội dung, Cục sẽ ra một trong các thông báo sau:

·         Nếu đối tượng nêu trong đơn không đáp ứng yêu cầu bảo hộ hoặc đã đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ nhưng đơn còn có thiếu sót, Cục sẽ ra thông báo dự định từ chối cấp văn bằng bảo hộ và ấn định thời hạn để người nộp đơn có ý kiến và sửa chữa thiếu sót. Sau khi người nộp đơn đã phản hồi thông báo và Cục xem xét thấy phù hợp, cục ra Thông báo dự định cấp văn bằng và ấn định thời hạn để người nộp đơn nộp phí cấp văn bằng.

·         Nếu đối tượng nêu trong đơn đã đáp ứng các yêu cầu bảo hộ, Cục sẽ ra Thông báo dự định cấp văn bằng và ấn định thời hạn đề người nộp đơn nộp phí cấp văn bằng.

Trong cả hai trường hợp nêu trên, nếu người nộp đơn đã nộp đủ lệ phí cấp văn bằng bảo hộ, lệ phí công bố quyết định cấp văn bằng bảo hộ, lệ phí đăng bạ, lệ phí duy trì hiệu lực năm thứ nhất, người nộp đơn sẽ được cấp Bằng độc quyền sáng chế. Mỗi năm người nộp đơn đều phải nộp lệ phí duy trì hiệu lực văn bằng bảo hộ nếu không, văn bằng sẽ bị chấm dứt hiệu lực.

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2020

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là gì?

 Sự không rõ ràng trong khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang làm khó cho cả cơ quan quản lý nh nước lẫn doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục đầu tư kinh doanh.



Trong buổi Tọa đàm về Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thủ tục kinh doanh do Báo Đầu tư phối hợp với Vụ Pháp chế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) , xác định thế nào là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục được tranh luận gay gắt.

Theo phân tích của ông Nguyễn Anh Tuấn, Tổng biên tập Báo Đầu tư, cho dù Luật Đầu tư năm 2005 đã có hiệu lực gần 9năm, hoạt động đầu tư nước ngoài đang hiện diện ở hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân, song khái niệm mang tính dẫn hướng cho cả cơ quan quản lý nhà nước cũng như nhà đầu tư trong thực thi pháp luật về đầu tư lại vẫn không rõ ràng.

Khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tư định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại…

Với quy định chung này, doanh nghiệp Việt Nam chỉ cần có 1 cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài sẽ được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đương nhiên, các doanh nghiệp này sẽ phải gánh chịu những điều kiện đầu tư dành cho khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các điều kiện hạn chế gia nhập thị trường theo cam kết với WTO của Việt Nam.

Tuy nhiên, Khoản 4, Điều 29, cũng của Luật Đầu tư quy định: “nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện đầu tư như nhà đầu tư trong nước trong trường hợp các nhà đầu tư Việt Nam sở hữu từ 51% vốn điều lệ của doanh nghiệp trở lên…”.

Nghị định 102/2010/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp quy định cụ thể, doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ dưới 49% cổ phần được áp dụng các điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với nhà đầu tư trong nước tức là doanh nghiệp Việt Nam.

Hệ lụy của tình trạng này là có thể cùng một vấn đề song cách ứng xử ở các cơ quan, các địa phương khác nhau rất khác nhau trong thực hiện thủ tục đầu tư. Câu chuyện phải xin hủy niêm yết, khóa room nhà đầu tư nước ngoài của CTCP Hóa – Dược phẩm Mekophar chỉ là một giọt nước làm tràn ly.

Tuy vậy, xác định câu trả lời cụ thể cho vấn đề này dường như vẫn quá khó. Ngay cả tỷ lệ 10% hay 49% sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp mà nhiều chuyên gia đề xuất căn cứ theo pháp luật của một số nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, quy định của OECD cũng chưa nhận được sự đồng thuận.

Ông Phan Đức Hiếu, Phó ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) chia sẻ kinh nghiệm, theo pháp luật của Hàn Quốc, đầu tư nước ngoài là sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong công ty của Hàn Quốc, khoản vay nước ngoài và đóng góp nhà đầu tư nước ngoài vào tổ chức phi lợi nhuận.

“Tiêu chí xác định doanh nghiệp có vốn ĐTNN gồm: với hình thức góp vốn, mua cổ phần: là trên hoặc bằng 50 triệu Won, sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc cổ phần có quyền biểu quyết hoặc thỏa thuận về bãi nhiệm/bổ nhiệm người quản lý; thỏa thuận mua nguyên vật liệu, sản phẩm; cung cấp công nghệ, cùng R&D. Điều kiện này áp dụng cho từng nhà đầu tư và được tính tính theo vốn thực tế khi hoàn thành thủ tục đầu tư”, ông Hiếu cho biết các tiêu chí này được xác định nhằm mục tiêu quản lý dòng vốn nước ngoài thực. “Với Việt Nam, câu hỏi cần phải được trả lời lúc này là đặt mục tiêu gì đối với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Phải xác định rõ mục tiêu, việc xây dựng tiêu chí, khái niệm sẽ đúng hướng, phục vụ theo mục tiêu đã định” ông Hiếu đề xuất.

Cho tới thời điểm này, các thảo luận vẫn đang được tiếp tục. Tuy nhiên, khuyến nghị của các nhà đầu tư là nếu như các cơ quan lập pháp không nhanh chóng làm rõ và thống nhất khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tất cả các văn bản pháp luật hiện hành, những rắc rối tương tự như Mekophar chắc chắn sẽ xảy ra nhiều hơn. Điều này sẽ ảnh hưởng bất lợi tới môi trường kinh doanh của Việt Nam.

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2019

Hà Nội Chỉ Nhận Hồ Sơ Thành  Lập Doanh Nghiệp Qua Mạng

Hà nội sẽ chỉ nhận hồ sơ thành lập doanh nghiệp qua mạng bắt đầu từ thời gian nào?


Hiện nay, việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng đã được thực hiện một thời gian, tuy nhiên hiệu quả chưa cao. Sở Thông tin và truyền thông Hà Nội cho biết, thực hiện kế hoạch của UBND TP. Hà Nội về việc triển khai vận hành chính thức các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, Sở Thông tin và truyền thông đã chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, quận, huyện tổ chức triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 từ 01/01/2017 đến 168 phường, 12 quận và 10 sở.
Ngày 16/5, phát biểu tại hội nghị họp Ban chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin TP. Hà Nội, Chủ tịch thành phố Nguyễn Đức Chung chỉ đạo các đơn vị phải nâng tỉ lệ đăng ký qua mạng lên tới 100%. Thành phố sẽ trang bị máy móc hiện đại để sở Kế hoạch-Đầu tư thực hiện được công tác này, nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp.
Cũng tại buổi họp, Giám đốc Sở Thông tin – Truyền thông (TT-TT) Phan Lan Tú cho biết, để triển khai số hoá dữ liệu, tại quận Long Biên – đơn vị được triển khai thí điểm, toàn bộ dữ liệu sổ hộ tịch năm 2015 đã được số hóa và đồng bộ vào hệ thống eSAMS của Thành phố với tổng số 64 quyển sổ khai sinh và đăng ký kết hôn, gồm 8.355 trường hợp với 282.113 trường dữ liệu. Kết quả số hóa đã giúp đơn vị khai thác hiệu quả, hỗ trợ tích cực cho công tác lưu trữ, khai thác dịch vụ công,… Trên cơ sở đánh giá kết quả triển khai, Sở TT-TT đề xuất Thành phố có kế hoạch triển khai cụ thể và đồng bộ trong các lĩnh vực trên diện rộng năm 2017.
Theo chủ tịch UBND TP. Hà Nội, việc này sẽ giúp cho cơ quan nhà nước và doanh nghiệp tránh phiền hà, tiết kiệm thời gian, đồng thời giảm chi phí 200.000 đồng/bộ hồ sơ đăng ký.
Chủ tịch UBND Thành phố cũng giao Sở TT-TT chủ trì phối hợp với các đơn vị về việc thu giá DVC. Cụ thể, Hà Nội sẽ c

ung cấp để tra cứu thông tin công chứng, chứng minh thư nhân dân, tra cứu thông tin sim thẻ viễn thông. Sở Tài chính phối hợp tham mưu để thành phố báo cáo Bộ Tài chính, Chính phủ cho phép mức giá thu các DVC này.
Tính đến hết tháng 4/2017, hệ thống dịch vụ công trực tuyến của thành phố đã có 4.681 cán bộ được cấp tài khoản tham gia, có gần 5 triệu lượt truy cập. Tỷ lệ hồ sơ giao dịch qua mạng là 82.580 hồ sơ/91.798 hồ sơ (đạt trên 90%); Xây dựng hệ thống một cửa điện tử dùng chung 3 cấp kết nối hệ thống dịch vụ công trực tuyến.

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2019

Hủy Bỏ Nhãn Hiệu Tại Việt Nam

Muốn hủy bỏ nhãn hiệu tại Việt Nam cần những gì?


Nhãn hiệu là tài sản vô giá giúp phân biệt các sản phẩm dịch vụ cùng loại giữa các tổ chức, cá nhân khác nhau. Các doanh nghiệp thường phải mất một thời gian dài để gây dựng sự tín nhiệm của khách hàng với sản phẩm, dịch vụ và nhãn hiệu của mình. Tuy nhiên, thực tế trên thị trường có thể xuất hiện nhiều nhãn hiệu giống hoặc ương tự làm khách hàng nhầm lẫn, điều này dẫn nhiều thiệt hại cả về uy tín và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Các nhãn hiệu này có thể đã hoặc đang trong quá trình đăng ký bảo hộ tại Cục sở hữu trí tuệ, tuy nhiên, doanh nghiệp hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước huỷ bỏ hoặc từ chối cấp bảo hộ nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn.
ANT Lawyers là tổ chức đại diện  đã được Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam công nhận. Với nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cùng độ ngũ chuyên gia IP giàu kinh nghiêm, ANT lawyers sẽ hỗ trợ quý khách hàng yêu cầu hủy nhãn hiệu gây nhầm lẫn như sau:
 Hủy nhãn hiệu tại Việt Nam
  • Theo Điều 96 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, giấy chứng nhận nhãn hiệu có thể bị hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ theo yêu cầu hợp pháp của bên thứ ba/
  • Người yêu cầu có thể gửi văn bản tới Cục sở hữu trí tuệ yêu cầu hủy nhãn hiệu theo các trường hợp được quy định theo luật với điều kiện phải nộp phí và lệ phí.
Các trường hợp hủy bỏ nhãn hiệu
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có thể hủy một phần hoặc toàn bộ bởi yêu cầu của bất kỳ bên thứ ba nào trong các trường hợp sau:
  • Người nộp đơn đăng ký không Người yêu cầu đăng ký không có hoặc không được chuyển nhượng quyền đăng ký nhãn hiệu;
  • Đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm văn bằng bảo hộ được cấp.
Tài liệu cần cung cấp
  • Bằng chứng về việc nhãn hiệu giống hoặc tương tự gây nhầm lẫn;
  • Giấy ủy quyền;
  • Văn bản giải thích lý do yêu cầu (ghi rõ số thứ tự của văn bằng bảo hộ, lý do, căn cứ pháp lý, nội dung yêu cầu chấm dứt hoặc huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bằng bảo hộ) và các tài liệu liên quan.
Thời gian và thủ tục
Trong trường hợp yêu cầu huỷ bỏ văn bằng bảo hộ nhãn hiệu được thực hiện bởi bên thứ ba, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ thông báo bằng văn bản ý kiến ​​của bên thứ ba cho chủ văn bằng bảo hộ và gia hạn thời gian hai tháng kể từ ngày thông báo về văn bằng bảo hộ nhãn hiệu để Chủ sở hữu phản hồi.
Sau khi xem xét ý kiến của các bên, Cục sở hữu trí tuệ sẽ ra quyết định hủy một phần hoặc toàn bộ hoặc từ chối hủy văn bằng bảo hộ nhãn hiệu
Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết yêu cầu hủy bỏ nhãn hiệu của Cục sở hữu trí tuệ, bên yêu cầu hoặc các bên liên quan có thể khiếu nại vè quyết định hoặc thông báo đó.
Quyết định hủy bảo hộ nhãn hiệu sẽ được công bố tại Cổng thông tin Sở hữu trí tuệ và được ghi nhận tại Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu trí tuệ trong vòng 2 tháng kể từ ngày ký
Nguồn : http://www.antlawyers.com/huy-bo-nhan-hieu-tai-viet-nam/

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2019

Biển Hiệu Của Doanh Nghiệp Phải Treo Như Thế Nào ?
Biển hiệu là gì? Pháp luật quy định như thế nào về việc đặt biển hiệu của doanh nghiệp? Việc treo biển hiệu của doanh nghiệp phải chú ý những gì?

Biển hiệu là một phần quan trọng không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp, góp phần quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường. Biển hiệu ghi nhận tên doanh nghiệp, địa chỉ, số điện thoại liên hệ để tiện cho việc giao dịch, kinh doanh, quảng cáo nói chung. Biển hiệu của doanh nghiệp được pháp luật điều chỉnh rất chặt chẽ vầ cả mặt mỹ quan, vị trí đặt biển và nội dung ghi trên biển hiệu.

1. Các hình thức của biển hiệu
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc viết, đặt, treo, dán, dựng, lắp biển hiệu, sau đây gọi chung là viết, đặt biển hiệu, tại trụ sở, nơi kinh doanh của tổ chức, cá nhân dưới các hình thức sau: Bảng; biển; hộp đèn; hệ thống đèn néon uốn chữ (neonsight) hoặc các hình thức khác.

2. Mỹ quan, chữ viết, vị trí, nội dung biển hiệu
Thứ nhất là yêu cầu về mỹ quan: Biển hiệu là một trong các hình thức đại diện cho doanh nghiệp, chính vì vậy việc bảo đảm mỹ quan là vô cùng cần thiết. Biển hiệu bắt buộc phải viết bằng chữ Việt Nam trường hợp doanh nghiệp muốn thể hiện tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế hoặc tên, chữ nước ngoài thì phải ghi ở phía dưới, lưu ý là kích thước của chúng phải nhỏ hơn phần chữ viết bằng tiếng Việt Nam.
Thứ hai là về vị trí đặt biển hiệu: Biển hiệu chỉ được viết, đặt sát cổng, hoặc mặt trước của trụ sở hoặc nơi kinh doanh của tổ chức, cá nhân. Pháp luật quy định đối với mỗi cơ quan, tổ chức chỉ được viết, đặt một biển hiệu tại cổng; tại trụ sở hoặc nơi kinh doanh độc lập với tổ chức, cá nhân khác chỉ viết, đặt một biển hiệu ngang và không quá hai biển hiệu dọc.
Thứ ba là về nội dung của biển hiệu: Thông thường, mỗi biển hiệu đều thể hiện các nội dung như tên cơ quan chủ quản trực tiếp (nếu có). Cơ quan chủ quản trực tiếp được hiểu là cơ quan cấp trên trực tiếp quyết định về tổ chức, nhân sự, ngân sách hoặc giải quyết các chế độ, chính sách cho cơ quan, tổ chức viết, đặt biển hiệu. 
Biển hiệu phải thể hiện tên gọi đầy đủ bằng chữ Việt Nam đúng với quyết định thành lập hoặcgiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp. Ngoài ra, trên biển hiệu còn chưa đựng các thông tin như: Loại hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã; ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh chính (đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ); địa chỉ giao dịch, số điện thoại (nếu có). Trên biển hiệu được thể hiện biểu tượng (logo) đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, diện tích logo không quá 20% diện tích biển hiệu, không được thể hiện thông tin, hình ảnh quảng cáo cho bất cứ loại hàng hóa, dịch vụ nào. 
3. Mức xử lý vi phạm
Nghị định 158/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo quy định việc xử phạt những vi phạm biển hiệu như sau:
Doanh nghiệp sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu vi phạm một trong các hành vi sau đây: Không thể hiện đầy đủ trên biển hiệu tên cơ quan chủ quản trực tiếp; tên cơ sở sản xuất kinh doanh theo đúng Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; địa chỉ, điện thoại; Sử dụng biển hiệu có kích thước không đúng theo quy định.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng nếu ghi không đúng hoặc ghi không đầy đủ tên gọi bằng tiếng Việt trên biển hiệu; không viết bằng chữ tiếng Việt mà chỉ viết bằng chữ tiếng nước ngoài trên biển hiệu hay viết tên riêng, tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế bằng chữ nước ngoài ở phía trên tên bằng chữ tiếng Việt trên biển hiệu; thể hiện tên gọi, tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế bằng chữ nước ngoài có khổ chữ quá ba phần tư khổ chữ tiếng Việt trên biển hiệu hoặc là đặt chiều cao của biển hiệu dọc vượt quá chiều cao của tầng nhà nơi đặt biển hiệu.
Mức phạt sẽ là 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu doanh nghiệp treo, dựng, đặt, gắn biển hiệu che chắn không gian thoát hiểm, cứu hỏa, lấn ra vỉa hè, lòng đường, ảnh hưởng đến giao thông công cộng hoặc việc treo, dựng, đặt, gắn biển hiệu làm mất mỹ quan.
Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi, nếu còn bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với Công ty luật để được tư vấn hoặc thực hiện dịch vụ thành lập doanh nghiệp.


Nguồn : Luật sư 1900

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2019

Quan Chức Tư Lợi Bao Nhiêu Tiền Sẽ Phạm Tội Nhận Hối Lộ ?
Bộ luật Hình sự 2015 xử lý hành vi nhận hối lộ cả với người không làm việc trong cơ quan nhà nước. 
Mới đây tại Vĩnh Phúc ba thanh tra của bộ xây dựng bị bắt quả tang nhận hối lộ.
Ngày 18/6, lãnh đạo VKSND tỉnh Vĩnh Phúc cho biết đơn vị đã phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam với bà Nguyễn Thị Kim Anh (trưởng đoàn thanh tra) cùng hai thành viên là ông Đặng Hải Anh và Nguyễn Thuỳ Linh về tội Nhận hối lộ. Vậy theo luật pháp thì xử phạt như thế nào ? 




Từ 1/1/2018, hình phạt với tội Nhận hối lộ theo Bộ luật Hình sự 2015 đã thay đổi so với quy định cũ (Bộ luật Hình sự 1999), trong đó xử lý cả những có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước.

Luật mới cho phép người bị kết tội nếu chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì hình phạt tử hình được chuyển thành chung thân.
Pháp luật hiện hành quy định về hành vi Nhận hối lộ như sau: Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm: Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng; lợi ích phi vật chất.

Mức phạt từ 7 năm đến 15 năm tù được áp dụng với trường hợp: đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt; của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước.... Theo luật cũ, giá trị tài sản từ 10 triệu đến dưới 50 triệu đồng.
Án tù tăng lên 15 năm đến 20 năm nếu của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới một tỷ đồng; gây thiệt hại về tài sản từ 3 tỷ đồng đến dưới 5 tỷ đồng. Theo luật cũ, giá trị tài sản từ 300 triệu đồng.

Trường hợp của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ một tỷ đồng hoặc gây thiệt hại về tài sản 5 tỷ đồng trở lên, mức phạt lên tới 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Theo luật cũ, nếu "của hối lộ" có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên hoặc hành vi gây hậu quả nghiêm trọng, người nhận hối lộ sẽ bị phạt mức này.

Công ty luật cung cấp các dịch vụ pháp lý cho doanh nghiệp đảm bảo đúng pháp luật và thúc đẩy hoạt động kinh doanh. 

  Nguồn : vnexpress